NGUỒN GỐC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN YOGA

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

YOGA có nguồn gốc ở Ấn độ, có lịch sử lâu đời hơn 5000 năm, là một trong 6 trường phái triết lý nổi tiếng của Ấn độ, và hiện nay đã phổ biến khắp nơi trên thế giới. YOGA có một lịch sử lâu đời và có quan hệ mật thiết với hệ thống BRAMANISM [đạo bà la môn]. Ở Ấn độ, YOGA được trình bày và phân tích rất nhiều trong văn hiến cổ, hầu như mỗi bộ kinh điển đều có khá nhiều chương mục truyền thụ tri thức YOGA. Sau này Phật giáo được sinh ra trong hệ thống BRAMANISM, triết học YOGA vẫn được thể hiện trong kinh văn như cũ cho tới ngày nay, và có rất nhiều phương pháp tu hành của Phật giáo được phát triển dựa trên cơ sở của YOGA.

ĐỊNH NGHĨA VỀ YOGA

Từ YOGA đã có rất lâu, nó còn lâu hơn hệ thống triết học mang cái tên này. Lần đầu tiên từ YOGA được dùng đến là ở trong kinh VỆ ĐÀ, có nghĩa là ràng buộc các vật vào với nhau, nhất là bò và ngựa. Từ này có gốc gác từ tiếng PHẠN, chữ “JUJIR”có nghĩa là chấp lại, nối lại… nhưng sau đó có một ý nghĩa khác được gắn vào thuật ngữ này, cũng bắt nguồn từ gốc PHẠN, chữ “JUJ” có nghĩa là kiểm soát ý thức.

Và một ý nghĩa khác nữa. YOGA có nghĩa là tương ứng, khế hợp… và cũng hàm chứa ý nghĩa là dung hợp, mặc tưởng, quy nhập, hợp nhất, hòa hợp hoặc tập trung ý chí.

Những điều gì thuộc về CHỈ và QUÁN tương ứng với nhau, hoặc TÂM và THÂN tương ứng với nhau ĐỀU CÓ THỂ GỌI LÀ YOGA.

PHÂN LOẠI YOGA

YOGA là một danh từ tổng quát, phải thêm một từ khác nữa trước chữ YOGA thì mới biết đó thuộc loại  Yoga nào. Thí dụ như BHAKTI YOGA, KARMA YOGA, JNANA YOGA, RAJA YOGA, HATHA YOGA…

KHỞI NGUỒN CỦA YOGA CÓ 5 LOẠI.

 

 

 

 

 

 

 

 

1/ BHAKTI YOGA: Là con đường sùng bái, sùng tín, hay tín ngưởng.

Người thực tập BHAKTI YOGA họ sẽ hướng tâm hòa hợp vào đấng thượng đế, hoặc các vị thần như là BRAHMA [sáng tạo] VISHNU [bảo tồn] SHIVA [hủy diệt] hoặc là các đấng thần linh mà họ tín ngưỡng như là thần lửa, thần nước, thần sấm sét v.v…

Đây là một dạng YOGA đơn giản nhất, dễ tập nhất. Bởi vì nó không áp dụng bất kỳ một kỷ thuật phức tạp nào hay là một phương pháp rắc rối nào, cũng như nó không yêu cầu một khả năng đặc biệt nào của người học. Nó rất phù hợp với những người có bản chất nhiều tình cảm, rất hấp dẫn đối với người bình dân, vì nó làm tăng sự tin tưởng ở những người có lòng thành tín đã ký thác mình cho đối tượng ngưỡng mộ. Nó có cơ sở là niềm tin vào một thế lực tối thượng có sứ mạng sáng tạo ra vạn vật, và thế lực đó có đầy quyền năng và lòng từ bi, có thể ban bố ơn phúc cho các tín đồ cũng như che chở cho họ khỏi tai ương và quỷ dữ. Bằng nhiều cách thức tu hành như tụng kinh, cầu nguyện và trì tụng mật chú, năng lượng cảm xúc của hành giả được chuyển biến thành sự hiến dâng. Những tình cảm như hỉ, nộ, ái, ố… được chuyển hoá theo chiều hướng tích cực hơn. Cảm xúc yêu thương cũng trở nên trong sáng hơn, thánh thiện hơn.

Lòng sùng kính và đức tin đóng một vai trò quan trọng trong tín ngưỡng, người thực hành BHAKTI YOGA phải là một người biết yêu thương đồng loại, không có ý nghĩ ác và không làm điều ác. Thường đọc kinh sách, nhìn ngắm biểu tượng của các đấng tối thượng mà mình tôn sùng v.v… Sự truyền bá rộng rãi của BHAKTI YOGA phần lớn là sự đơn giản, đó là điểm đặc thù của nó.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2/ KARMA YOGA: Là con đường hành động.

Người thực tập KARMA YOGA họ rất tin vào nghiệp báo, họ thường tạo ra những NHÂN tốt, để được QUẢ tốt đời sau. Tuy nhiên có một số người không quan tâm về nghiệp hay nhân quả khi họ hành động tốt, nhưng cái quả ấy vẩn có ở đời sau.

Theo lời của Lokamaya Tilak thì đây là YOGA của kinh Gita. KARMA trong tiếng Phạn có nghĩa là hành động, và là một hành động bất vụ lợi, là con đường nhanh nhất để tâm hồn trở nên trong sáng và vượt khỏi mọi sự ràng buộc của thế gian. Dạng Yoga này được gọi như vậy là bởi vì sau khi đã đạt được chính quả [jivanmukti] người ấy vẫn không ngừng hoạt động. Thông thường con người ta làm bất cứ một việc gì cũng có những ước muốn hoặc tham vọng. Nhưng đối với một người đắc quả, hành động mà không bị trói buộc mình vào thành quả đó, thì người đó mới có thể thoát khỏi sự ràng buộc của mọi hành động.

Như vậy KARMA YOGA là con đường hướng dẫn người ta hết lòng thực hiện bổn phận của mình mà không hề mong được lợi lộc gì trong đó. Đối với một người bình thường, những điều này khó thực hiện. Bởi vì hầu hết chúng ta thường mơ tưởng và ham muốn đến những lạc thú mà hành động của mình có thể đem lại. Ta luôn luôn mong muốn đến sự thăng tiến sắp tới của mình từ địa vị, uy tín, quyền lực trong xã hội v.v… Ta thường làm rất nhiều việc nhằm mục đích trở nên là người quan trọng trong công việc mà mình đang làm, luôn luôn mơ tưởng sẽ đạt được những gì mà người khác không thể đạt được. Nhưng đối với các hành giả KARMA YOGA thì khác biệt hoàn toàn, họ biết cách loại bỏ tính ích kỷ trong tư tưởng, dứt bỏ sự luyến ái, phụng sự nhân loại mà không mong cầu sự đền đáp. Những bực gương mẩu của KARMA YOGA là Pasteur, Calmette, Yersin, Gandhi v.v… là những vị “HẾT LÒNG PHỤNG SỰ CHO NHÂN LOẠI, PHỤC VỤ CHO HOÀ BÌNH THẾ GIỚI”.

 

 

 

 

 

 

 

 

3/ JNANA YOGA: Là con đường minh triết.

Người thực tập JNANA YOGA họ thường dựa theo cơ sở của những cái trước, cái sẳn có mà họ lý luận để tìm ra chân lý, hoặc là họ có những ý nghĩ, ý tưởng mới. Đây là dạng Yoga mà tất cả các lĩnh vực trong xã hội nào cũng đều áp dụng. Nguyên lý của nó là ” đưa ra một vấn đề, tìm hiểu vấn đề một cách thấu đáo, cuối cùng là giải quyết vấn đề đó”.

Nó thích hợp cho những nhà trí thức và khoa học, dùng trí tuệ và triết lý để hướng tới phát triển tâm linh. JNANA YOGA được xem là phương pháp tu luyện khó khăn nhất trong các loại Yoga, nó chỉ sau RAJA YOGA. Người theo JNANA YOGA không dùng đức tin để tạo sự sùng tín như BHAKTI YOGA, hay dùng thân xác để hành động như KARMA YOGA, hoặc tập những động tác [asana] như HATHA YOGA. Phép tu này đòi hỏi hành giả phải có một trí óc nhạy bén, một trí tuệ sáng suốt. Phải vận dụng trí óc thông minh, sáng tạo… luôn luôn học hỏi, sưu tầm, suy niệm… để thông hiểu những lẽ nhiệm mầu tiềm ẩn trong con người, thí dụ như họ tự đặt câu hỏi : Ta là ai… từ đâu tới… tới làm gì… rồi cuối cùng… đi về đâu? Hoặc là tại sao vạn vật đồng nhất thể? Tại sao con người được gọi là tiểu vũ trụ? Hoặc là để hiểu những cơ cấu của vũ trụ. Sự cấu tạo của một hạt cát bé tí tẹo đối với một quả địa cầu to lớn này nó có liên quan như thế nào? Có rất nhiều và rất nhiều câu hỏi tương tự như vậy mà hành giả JNANA YOGA lúc nào cũng tìm lời giải đáp xác thực và áp dụng vào việc tu hành.

Nó cũng giống như các nhà bác học tìm kiếm nguyên lý của nền khoa học đối với quả địa cầu, đối với vật chất hiện hữu. Phép tu này ở trong Phật giáo gọi là “thiền công án” hoặc “khán thoại đầu”. Đây là một dạng YOGA gây rất nhiều khó khăn cho người thầy. Người học trò thường hay đặt ra nhiều câu hỏi, và người thầy phải trả lời. Nếu người thầy trả lời không được thì người thầy đó phải xem câu hỏi đó là một công án để mà suy niệm. Nhưng thường thì việc này ít khi xảy ra, bởi vì các thầy đời nay thường áp đặt, hoặc tạo ra một công án để cho người học trò suy nghĩ và nghiên cứu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

4/ RAJA YOGA: Là con đường giác ngộ, giải thoát.

Người thực tập RAJA YOGA thường tự thân nổ lực tu tập để phát triển trí tuệ và đưa đến giác ngộ, giải thoát. Đây là môn tu tập không lệ thuộc vào bất cứ tôn giáo nào, hoặc tôn thờ một đối tượng nào. Rất thích hợp với những ai không muốn dính dáng vào tôn giáo.
RAJA YOGA bao gồm 8 bước liên quan chặt chẽ với nhau. Cũng có thể nói là 8 cấp bực nối tiếp nhau.

Hai bước đầu tiên

Là thực hành Yama và Niyama. Đó là nguyên tắc đạo đức cơ bản mà bất cứ một người tập RAJA YOGA nào cũng phải tuân thủ một cách nghiêm cẩn nhằm hướng tới sự phát triển của con người, mục tiêu là để đạt tới sự hoàn thiện của tâm trí.

Bước thứ 3

Là Asana. Asana là một tư thế được giữ cố định một cách thoải mái. Đây là phần nổi tiếng nhất của Yoga, nhưng nó cũng thường bị hiểu sai. Asana không phải là các bài tập thông thường như thể dục. Mà Asana là những bài tập đặc biệt có hiệu quả cụ thể lên các tuyến nội tiết, các khớp, cơ bắp, dây chằng và các rể thần kinh.
Khía cạnh quan trọng nhất của Asana là tác động lên các tuyến nội tiết, nơi tiết xuất hoóc-môn trực tiếp vào máu. Nếu một trong các tuyến nội tiết tiết xuất quá ít hoặc quá nhiều thì cơ thể sẽ có vấn đề.
Bên cạnh việc mang lại sức khoẻ thể chất, các Asana có một ảnh hưởng quan trọng đối với tâm trí. Sự cân bằng của các tuyến nội tiết giúp cho sự cân bằng của tâm trí. Cũng nhờ tác động mạnh lên các trung tâm thần kinh, các Asana giúp kiểm soát các khuynh hướng tâm trí ở các trung tâm này.
Bước thứ 4
Là Pranayama hay còn gọi là “kiểm soát dòng năng lượng”. Yoga định nghĩa cuộc sống như trạng thái tồn tại song song của thể chất và tâm trí. Các năng lượng sức sống này gọi là các vayu hay “khí”. Có mười loại khí vayu trong cơ thể con người, chịu trách nhiệm về các hoạt động chuyển động bao gồm thở, lưu thông máu, bài tiết, vận động tứ chi… Điểm kiểm soát của tất cả các khí vayu này là một cơ quan gọi là Pranedriya.
Trong Pranayama có một quá trình đặc biệt điều chỉnh hơi thở để nhịp của Pranendriya dừng lại và tâm trí trở nên yên tĩnh. Thực tập Pranayama sẽ giúp cho ta điều chỉnh lại sự cân bằng năng lượng trong cơ thể.Tập luyện Pranayama là một bài tập rất phức tạp và có thể nguy hiểm nếu không được chỉ dạy và hướng dẫn bởi một người thầy có kinh nghiệm.
Bước thứ 5
Là Pratyahara có nghĩa là rút tâm trí khỏi sự rằng buộc với ngoại cảnh, tiến tới làm chủ các giác quan, cảm xúc tiêu cực… dần dần tiến về trạng thái không của định.
Bước thứ 6
Dharana. Trong trạng thái này người nào hoàn toàn ở trong cái “không” khoảng 3 phút… được gọi là THIỀN
Bước thứ 7
DHYANA. Trong trạng thái này người nào hoàn toàn ở trong cái “không” khoảng 30 phút… được gọi là THIỀN ĐỊNH
 
Bước thứ 8
SAMADHI. Trong trạng thái này người nào hoàn toàn ở trong cái “không” trên 30 phút… được gọi là ĐẠI ĐỊNH
5/ HATHA YOGA: Là con đường rèn luyện thể dục để tăng cường sinh lực.

Người thực tập HATHA YOGA thường dùng cách hô hấp và phương pháp thể dục để tăng cường sức khỏe, có thể gọi là khoa luyện trường sinh.

Đây là một dạng YOGA ra đời sau các loại YOGA trên. Nó gồm có bốn phần là Asana, Pranayama, Mudra và Nadanusandhana, tổ sư của phái này là SWATMARAMA.

Hatha Yoga là cái thang cho một học trò cần mẫn cuối cùng đến được cái đích của RAJA YOGA. Người ta cho rằng thực hành các bài tập của loại Yoga này sẽ đem lại cho ta sự kết hợp của những cái mà người ta gọi là mặt trời và mặt trăng trong thân thể. Mặt trăng nằm ở vùng phía trên vòm họng và tiết ra chất nước chảy xuống, rồi được thẩm thấu tới mặt trời nằm ở phần dưới rốn. Tóm lại, Hatha Yoga là phương cách xử lý mặt trời và mặt trăng trong cơ thể chúng ta sao cho chúng được kết hợp hài hoà với nhau.

Asana là phần đầu của Hatha Yoga, và cũng là bước thứ ba trong quá trình tu luyện Raja Yoga. Những bài tập này được thực hiện một cách nhẹ nhàng nhằm làm trơn các cơ, khớp, dây chằng, gân… và các bộ phận khác trong cơ thể, nó làm cho thân thể trở nên linh hoạt, dẻo dai nhờ loại bỏ các chất cặn bả và mở thừa.
Các Asana giúp ta giúp ta rèn luyện hệ thần kinh, cải thiện tuần hoàn, tăng cường độ mềm, dẻo và làm giảm bớt sự căng thẳng. Asana khi được thực hành một cách từ từ, chậm rải, kết hợp cùng với sự chú tâm sẽ mang lại lợi ích không chỉ đơn thuần về mặt thể chất. Nó mở rộng khả năng trí não và thúc đẩy sự phát triển những khả năng tâm linh của hành giả, đây cũng là những kết quả đầu tiên mà Hatha Yoga mang lại.

Hai phần tiếp theo đó là Mudra và Pranayama nhằm làm cho hơi thở yên lặng bằng cách kích thích một số vùng kém hoạt động trong hệ thần kinh khi đã bóc hết lớp bã của các sợi thần kinh. Phần thứ tư của Hatha Yoga, đây là phần được xem là kết quả của việc tập luyện công phu của ba phần trên. Đến giai đoạn này người tập sẽ nghe được những âm thanh rất nhỏ khi ngồi tịnh tâm. Hiện tượng lạ thường này thường kéo dài một lúc, người tập Yoga nghe thấy âm thanh kia mỗi lúc một rõ, cuối cùng thì dứt bặt hẳn khiến cho ý thức chìm dần vào trong đó. Trạng thái này được mô tả bằng các từ như Samadhi, Sahajavastha, Unmani v.v… đó là trạng thái an lạc tột độ, sẽ mãi mãi không bị khuấy động dù có bất cứ điều gì xảy ra trong đời.

Từ thời cổ đại, khởi nguồn của YOGA có 5 loại, về sau này các vị đạo sư đã tạo ra thêm rất nhiều loại YOGA khác ví dụ như: MANTRA YOGA, KRIYA YOGA, TANTRA YOGA, PRANA YOGA, SHIVA YOGA, YANTRA YOGA, KUNDALINI YOGA v.v…

Hiện nay trên thế giới, nhất là ở Mỹ… xuất hiện rất nhiều loại YOGA như POWER YOGA, ASHTANGA YOGA, HOT YOGA, BIKRAM YOGA, INTERGRAL YOGA v.v… Ngày xưa các vị đạo sư đến với Yoga với mục đích là giác ngộ và giải thoát. Ngày nay các thầy dạy Yoga đã biến bộ môn này thành những bài thể dục và xem nó như một nghề béo bở để kinh doanh, vì vậy không còn những đạo sư chân chính để truyền cho thế hệ sau, thật là đáng tiếc!

 Mai Văn Như sưu tầm và biên soạn theo cách riêng của mình.

Gửi phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


*

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>